Mối liên hệ giữa lãi suất và nền kinh tế

Quảng cáo

Lãi suất là gì ?

Lãi suất là chi phí vay tiền. Con nợ (người vay) sẽ phải trả lãi suất để đổi lấy khả năng thanh toán ngay lập tức thay vì phải đợi một thời gian để gom góp đủ tiền. Lãi suất được thể hiện bằng tỉ lệ phần trăm theo năm của tổng số tiền vay. Ví dụ: bạn vay 1000 đồng với lãi suất 10% thì sau một năm bạn sẽ mang một món nợ 1100 đồng.

Lãi suất không phải là một con số tự do mà con nợ phải chịu. Lãi suất là để đền bù lại cho chủ nợ vì phải chịu rủi ro với số tiền của mình. Với mỗi món nợ, sẽ luôn có rủi ro kèm theo là con nợ sẽ không có khả năng hoàn trả. Rủi ro vỡ nợ càng cao thì lãi suất cũng sẽ càng cao. Đây là lý do tại sao khi bạn vay tiền ngân hàng, bạn có thể vay với lãi suất thấp nếu bạn chứng mình được khả năng trả nợ của mình.

Điều tuyệt vời của lãi suất chính là bạn cũng được hưởng quyền lợi nếu bạn quyết định trở thành chủ nợ. Ngân hàng, chính phủ, và các tổ chức tài chính đều cần tiền mặt. Nếu bạn gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng sẽ trả cho bạn lãi suất để được quyền tạm thời sử dụng số tiền của bạn. Chính phú thì bán trái phiếu và các tài sản tương tự cũng với lý do như trên. Trường hợp này bạn là chủ nợ và được đền bù chi phí vì phải tạm thời từ bỏ khả năng thanh toán của mình. Tuy nhiên, không may là những con nợ này có uy tin khá cao, tỉ lệ vỡ nợ gần như không có hay nói cách khác là bạn gần như không có rủi ro khi cho vay, vì vậy nên bạn sẽ chỉ nhận được giá trị lãi suất khá thấp.

Quảng cáo

Uy tín của con nợ chỉ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất. Ví dụ: lãi suất đối với khoản vay không đảm bảo (không thế chấp hay còn gọi là tín chấp) thì cao hơn đối với khoản vay đảm bảo (thế chấp). Một căn nhà sẽ là một tài sản thế chấp đảm bảo vì nếu bạn vỡ nợ, ngân hàng vẫn có thể lấy căn nhà của bạn. Thẻ tín dụng là khoản vay không đảm bảo bởi vì không có gì đảm bảo tính an toàn của khoản vay này ngoài uy tín của con nợ. Vì vậy nên lãi suất của khoản vay tín dụng sẽ cao hơn khoản vay có thể chấp (căn nhà).

Một khoản vay dài hạn cũng sẽ có lãi suất cao hơn khoảng vay ngắn hạn vì không ai biết chuyện gì có thể xay ra trong tương lai, tức rủi ro sẽ cao hơn nếu thời gian vay quá dài. Một trong vấn đề của khoản vay dài hạn chính là lạm phát. Ví dụ, nếu bạn vay với lãi suất 10%/năm, nhưng lạm phát là 4%/năm, thì ngân hàng chỉ thu về 6%/năm.

Quảng cáo

Ngân hàng nhà nước và lãi suất

Mỗi khi ngân hàng nhà nước cập nhật lãi suất thì ai cũng quan tâm và có thể khiến thị trường chứng khoán thay đổi chóng mắt. Nhưng tại sao lại như vậy ?

Ngân hàng nhà nước là đơn vị phát hành tiền của quốc gia, sau đó sẽ cho các tổ chức tín dụng vay lại trước khi các tổ chức tín dụng này cho người tiêu dùng vay. Ngân hàng nhà nước cũng là đơn vị quy định lãi suất vay cho các đơn vị tín dụng (bao gồm lãi suất vay từ Ngân hàng nhà nước hoặc vay giữa các tổ chức tín dụng, hay còn gọi là vay liên ngân hàng).

Quảng cáo

Vai trò của ngân hàng nhà nước là kiểm soát giá cả cũng như lãi suất vay dài hạn bằng một công cụ gọi là chính sách tiền tệ. Công cụ này là một hệ thống các chỉ số phức tạp được tính toán rất chi li, cẩn thận để dự đoán hướng tương lai của các mối quan hệ kinh tế trong nước và quốc tế, sau đó tác động và định hướng thị trường một cách hợp lý. Mục tiêu cuối cùng là để kiểm soát lạm phát trong khi vẫn thúc đẩy nền kinh tế phát triển ổn định.

Lãi suất là một trong những vũ khí lợi hại của chính sách tiền tệ có ảnh hưởng mạnh đến các hoạt động vay và cho vay. Ví dụ, nếu dự trữ tiền mặt của các ngân hàng đang dồi dào thì lãi suất vay sẽ thấp để khuyến khích hoạt động vay. Nhưng nếu dự trữ tiền mặt thấp thì lãi suất vay cao để hạn chế hoạt động vay.

Quảng cáo

Lãi suất và kinh tế

Nền kinh tế là một hệ thống sống động và có những mối liên hệ sâu sắc bên trong. Khi ngân hàng nhà nước thay đổi lãi suất giữa các ngân hàng thì những thay đổi này sẽ lan tỏa ra toàn bộ phần còn lại của nền kinh tế.

Như ở trên đã đề cập, nếu ngân hàng tăng lãi suất thì những khoản vay sẽ không còn hấp dẫn và hoạt động vay sẽ bị giảm xuống. Hệ quả kéo theo là nền kinh tế cũng bị chậm lại vì không có ai vay tiền để mua sắm nữa cả, thay vào đó, người ta sẽ đua nhau gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lợi. Còn nếu lãi suất giảm, thì họ sẽ chuyển tiền sang những tài sản khác sinh lợi nhiều hơn, hoặc là sẽ tích cực đi vay để tiêu dùng và kích thích nền kinh tế.

Quảng cáo

Đây là lý do tại sao thị trường chứng khoán rất nhạy cảm với những thay đổi của lãi suất ngân hàng. Thị trường chứng khoán là một dấu hiệu cho nhà đầu tư để biết được tình trạng hoạt động của nền kinh tế. Nếu người dân tích cực mua sắm thì hàng hóa sẽ lưu thông, các công ty bán được hàng hóa thì sẽ sinh ra lợi nhuận khiến thị trường chứng khoán đi lên. Khi các tín hiệu đều lạc quan thì nhà đầu tư cũng sẽ rót thêm tiền vào thị trường chứng khoán và lại khiến thị trường chứng khoán đi lên thêm nữa. Như vậy rõ ràng lãi suất có tác động kép đến sự thay đổi của thị trường chứng khoán. Nếu bạn quan tâm đến chứng khoán thì hãy quan tâm đến những thống báo về lãi suất của ngân hàng.

Lãi suất thấp cũng làm giảm giá trị đồng tiền vì không ai muốn giữ tiền mặt quá nhiều. Mặc dù đồng tiền mất giá dài hạn là điều không tốt, tuy nhiên về mặt ngắn hạn thì lại có lợi cho nền kinh tế vì người ta sẽ tích cực tiêu dùng nhiều hơn. Về dài hạn, việc đồng tiền mất giá sẽ dẫn đến lạm phát, tức ảnh hưởng đến giá trị thực mà chủ nợ có thể nhận được khi cho vay. Nhắc lại ví dụ ở trên: nếu bạn cho vay với lãi suất 10%/năm nhưng lạm phát là 4%/năm thì bạn chỉ nhận về được khoản lãi 6%/năm mà thôi. Điều này có nghĩa là sẽ có ít người gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi, ngân hàng sẽ thiếu dự trữ tiền mặt và ngân hàng nhà nước bắt buộc phải điều chỉnh lại lãi suất cho phù hợp.

Quảng cáo

Lãi suất và lạm phát

Lạm phát là sự tăng giá theo thời gian của sản phẩm và dịch vụ. Lạm phát thường được tính theo tỉ lệ %/năm giống như lãi suất. Hầu hết mọi người khi nghe đến lạm phát thì sẽ thành kiến xấu, tuy nhiên thực tế không phải vậy. Lạm phát là một sản phẩm phụ của một nền kinh tế phát triển. Nếu không có lạm phát, hay còn gọi là giảm phát (giá cả giảm) thì sẽ là một tín hiệu tồi tệ của một nền kinh tế. Ngoài ra, ở một nền kinh tế phát triển, lương/thu nhập cũng tăng theo giá cả sản phẩm.

Lời giải thích chuẩn cho hiện tượng lam phát chính là việc “quá nhiều tiền cho quá ít hàng hóa”. Đây được gọi là lý thuyết kéo cầu (demand-pull). Dưới đây là nguyên tắc của thuyết kéo cầu:

  1. Vì một số lý do, tiền được sử dụng nhiều hơn bình thường. Lý do có thể là vì lãi suất thấp nên người ta sẽ vay tiền tiêu xài nhiều hơn. Hoặc có thể là do chính phủ đang chi tiêu nhiều.
  2. Mặc dù dòng tiền tăng lên nhưng nguồn cung hàng hóa không đáp ứng kịp nhu cầu của thị trường (nhà cửa, xe cộ,…). Các cơ sở sản xuất không đáp ứng kịp tốc độ phát triển của nguồn cầu.
  3. Đôi khi nguồn cung bị suy giảm cũng khiến giá cả tăng
Quảng cáo

Một cách lý giải khác cho hiện tượng lạm phát là lý thuyết đẩy giá (cost-push). Dưới đây là nguyên tắc của thuyết đẩy giá.

  1. Vì một số lý do, chi phí để hoạt động kinh doanh tăng lên mà không phụ thuộc vào nhu cầu thị trường. Điều này có thể là do thay đổi về luật lao động khiến lương nhân công tăng, vì đồng tiền mất giá, chi phí nhập khẩu nguyên vật liệu tăng, hoặc là do thuế tăng.
  2. Đây được gọi là lạm phát đẩy giá vì giá cả tăng do chi phí sản xuất tăng.

Như vậy làm sao mà lãi suất lại có thể đẩy hoặc kéo lạm phát tăng giảm ? Như ở trên đã đề cập, khi lãi suất thấp sẽ kích thích người dân tiêu dùng nhiều, doanh nghiệp vay tiền kinh doanh, khiến nhu cầu tăng trong khi nguồn cung chưa đáp ứng kịp trong ngắn hạn dẫn đến giá cả tăng gây lạm phát. Nếu nhu cầu tăng lên quá nhanh thì nhà nước sẽ điều chỉnh tăng lãi suất để kiếm chế nhu cầu và giảm dòng tiền đi vào thị trường.

Vai trò của ngân hàng nhà nước phải theo dõi rất sát sao tình hình thị trường thông qua các chỉ số như là chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số giá sản phẩm để giữ cho nền kinh tế ở mức cân bằng. Tốc độ tăng trường của nhu cầu chỉ tăng nhanh hơn hợp lý so với tốc độ tăng trưởng nguồn cung. Có như vậy thì nền kinh tế sẽ tăng trưởng lành mạnh, mức lương người lao động tăng ổn định, tỉ lệ thất nghiệp thấp. Chỉ số lạm phát hợp lý là 2-3%/năm.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s